“Ta đi Chùa, Nhà thờ lạy Phật, Lạy Chúa mà ta quên không nghĩ tới Chúng sanh - Nhờ có Chúng sanh mà ta có thể thực hành việc thiện tạo phước cho ta: Vậy cả đấng Tối cao và Chúng sanh đều góp phần vào quả vị tốt lành mà ta mong đạt tới vì vậy tại sao ta chỉ lo tôn kính đấng tối cao mà bỏ quên chúng sanh và còn ganh ghét, ích kỷ với họ"
(Đức Đai Lạt Ma đời thứ 14)
Wednesday, October 22, 2008
Sunday, October 19, 2008
Ông lão đánh cá và bài học cuộc sống
Đầu tuần này, nhiều người Thái Lan lặng người khi nghe tin ông lão đánh cá Yen Kaewmanee từ trần. Một ông lão nhà quê hom hem, ngoài việc sống đến 108 tuổi, còn có gì đặc biệt mà cả những tờ báo lớn như The Nation hay Bangkok Post đều dành một góc trang trọng để đăng tin báo tử?

Người Thái sẽ nhớ nụ cười móm mém của “ngoại Yen”
Ảnh: Pattaya Daily News, The Nation
Người Thái gọi ông bằng cái tên rất đỗi thân thương: “ngoại Yen”. Từ nhiều năm qua, tên tuổi của ông đã gắn liền với biểu tượng về tinh thần tự lập mà người Thái đang khuyến khích con em mình noi theo. Nhắc đến “ngoại Yen”, người ta nhớ tới ông lão không bao giờ xin tiền hay nhờ vả người khác và câu nói bất hủ: “Không, tôi không sợ chết đói. Ngay cả con ốc không có tay chân mà còn tự nuôi sống mình được”.
Khi vợ qua đời năm 1993, “ngoại Yen”, một tín đồ Hồi giáo hiền từ, đã quyết định để dành 800 baht tiền thuê nhà, dọn lên sống trên ghe. Không muốn quấy rầy hai người con gái nuôi đã yên bề gia thất, ông tự kiếm kế sinh nhai. Với đôi bàn tay gầy trơ xương và đôi chân già run rẩy, “ngoại Yen” quăng lưới trên sông Phetchaburi để bắt cá, tự nấu cơm ngày hai bữa. Hôm nào bắt được nhiều, ông đem ra chợ bán nhưng không định giá “vì làm vậy, những người không đủ tiền mua sẽ không được ăn cá”.
Cuộc sống bình dị cứ lặng lẽ trôi, cho đến ngày ông gặp nhà sản xuất phim tài liệu Suthipong Dhammawoot. Bộ phim về cuộc đời “ngoại Yen” phát sóng năm 2005 đã làm cả nước xúc động. Sự tự lập của ông già ở cái tuổi cần được quan tâm chăm sóc nhất khiến người dân cảm phục.
Ông lão đánh cá tự thân mưu sinh
Các nhà hảo tâm nườm nượp kéo đến thăm hỏi, tặng quà. Hoàng hậu Thái Lan tặng ông một chiếc ghe mới tinh và yêu cầu chính quyền địa phương chăm lo cho sức khỏe của “ngoại Yen”. Nhưng tặng quà cho “ngoại” thật khó, bởi ông lão ở tuổi gần đất xa trời nhất định không chịu nhận bất cứ sự giúp đỡ nào. Phải năn nỉ, thuyết phục mãi ông mới chịu chuyển sang sống trên chiếc ghe mới và đón nhận lòng hảo tâm của mọi người.
Trừ việc được nhiều người biết đến hơn, ông lão đánh cá vẫn duy trì lối sống mộc mạc như trước. Minh chứng là khi một người khách lấy 170 baht từ tay ông, “ngoại Yen” đã nói: “Không sao, chúng ta được sinh ra là để giúp đỡ lẫn nhau mà!”. Một lần khác, trộm lấy mất 70.000 baht vừa được biếu, “ngoại Yen” cũng không buồn báo cảnh sát.
Khoảng một tháng trước ngày mất, “ngoại Yen” gặp tai nạn, ghe của ông bị nước mưa nhấn chìm. Sau gần 20 phút lóp ngóp, ông mới được xóm giềng phát hiện đưa đi cấp cứu. Nghe tin này, hoàng hậu đã yêu cầu Công ty đóng tàu Ayutthaya và Trường cao đẳng Công nghệ sửa sang chiếc ghe cho ông. Hiệp hội Chữ thập đỏ Phetchaburi đem thức ăn cho ông hằng ngày theo yêu cầu của hoàng hậu.
Sau tai nạn đó, sức khỏe “ngoại Yen” yếu đi nhiều. Đến sáng 12-10, các y tá thấy ông nằm bất tỉnh trên ghe. Dù các bác sĩ đã tận lực, họ vẫn không làm trái tim hơn trăm tuổi của ông đập trở lại.
Ông lão đánh cá trọn đời bình dị và tự lập đã làm động lòng biết bao nhiêu người. Giữa xã hội Thái Lan đầy những tranh giành quyền lực, tiền tài, sự ra đi của ông buộc nhiều người nhìn lại mình. Soi vào tấm gương trong veo của “ngoại Yen”, một độc giả báo The Nation, sau khi thừa nhận mình và nhiều người khác mắc kẹt trong thế giới đầy toan tính, đã thốt lên: “Đó là lý do vì sao tất cả chúng con đều yêu ông, ngoại Yen à. Ông đã sống được như thế, còn chúng con thì không”.
Sau khi “ngoại Yen” từ trần, Bộ trưởng Y tế Thái Lan Chalerm Yubamrung đã yêu cầu các bệnh viện nhà nước dành những phòng khám đặc biệt cho người già để họ không phải chờ đợi lâu. Bộ cũng yêu cầu đến năm sau, mỗi quận huyện phải lập một câu lạc bộ cho người cao tuổi sống trên địa bàn.
THANH TRÚC tổng hợp
(Sưu tầm)
Monday, October 13, 2008
Thơ của thầy
Đón Xuân
Lớn khôn nhờ đức cha ông
Trí tuệ sự nghiệp tổ tông vui mừng
Đạo làm người chớ dửng dưng
Đem tâm hiếu kính hòa xuân đất trời.
Sa Môn Thích Diệu Bổn
Lớn khôn nhờ đức cha ông
Trí tuệ sự nghiệp tổ tông vui mừng
Đạo làm người chớ dửng dưng
Đem tâm hiếu kính hòa xuân đất trời.
Sa Môn Thích Diệu Bổn
Tiểu Sử Hòa Thượng Vạn Ân (Hương Tích) (1885 - 1967)
Ngài thuộc môn phái Lâm Tế tôn (Liễu Quán) thứ bốn hai mươi.
Sinh năm Bính Tuất (1885) tại thôn Vạn lộc, Vạn lộc, xã Hòa Mỹ, quận Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Viên tịch vào hồi 1 giờ khuya mồng 8 tháng 2 năm Đinh Mùi (nhằm vía Đức Thế Tôn xuất gia, Phật lịch 2510)
Hưởng thọ 82 tuổi, thuộc giòng Nho phong họ Nguyễn.
Thân phụ của Ngài là ông cụ Nguyễn Chơn Tịnh.
Thân mẫu của Ngài là cụ bà Trần Thị Như Liên.
Năm 12 tuổi Ngài xuất gia học đạo, thọ giáo Tổ Nguyên Đạt (Chùa Long Trường) Húy là Trừng Thành.
Năm 21 tuổi Ngài thọ Cụ Túc giới tại Chùa Sắc Tứ Bát Nhã, Tuy An pháp hiệu VẠN ÂN.
Năm 26 tuổi Ngài dự vào hàng Tam Sư (tại Chùa Mông Đức, Phan Rang)
Sáu mươi mốt năm, vân du hành Đạo từ Phú Yên, Bạc Liêu, châu Đốc, Ninh Thuận, Bình Thuận và các tỉnh miền Nam. Ngoài việc giảng dạy giáo lý để hóa độ quần sanh, thì về mặc hình tướng Ngài đã kiến tạo và trùng tu cả thảy 22 ngôi Chùa. Ngôi Chùa Hương Tích là nơi Ngài khai sơn và trụ lâu nhất, hàng trăm vị xuất gia được đắc giới tại đây và gần đây là ngôi Bửu Tịnh tổ đình: Giáo hội cung thỉnh Ngài sung chức trưởng ban trùng tu ngôi Tổ đình để làm nơi Hoằng Đạo trung tâm cho Tỉnh giáo hội.
Với tuổi 77 là tuổi dưỡng lão; thế mà Ngài đã hoan hỉ nhận lãnh và thời gian chỉ có sáu năm, hơn nữa lại gặp hoàn cảnh chiến tranh khó khăn. Nhưng một ngôi Chùa không kém phần hùng vĩ nguy nga đã hiển hiện giữa thành phố Tuy Hòa. Vẫn biết việc thành tựu cao thượng trên phần lớn là do chư tôn Hòa Thượng, Thượng tọa Đại Đức và tín đồ. Nhưng phần tâm linh phải ghi nơi Ngài một tinh thần trách vụ cao cả.
Bên cạnh việc trùng tu và kiến tạo, Ngài còn rất lưu ý về mặt phát huy đạo đức, tiếp dẫn hậu lai; nên năm 1920 Ngài đã khai đại giới đàn, tại Chùa Khánh Long (Tuy Hòa). Năm 1956 Ngài dự vào hàng Tam sư Đại giới đàn toàn quốc; tổ chức tại Phật học viện Nha Trang.
Và trước đó Ngài đã đảm nhiệm trách vụ giảng sư tại Phật học đường Gia Giáo (Bạc Liêu) 3 năm. (Bạn đồng thời với Ngài là Ngài Pháp chủ Khánh Anh).
Hiện tại hàng đệ tử xuất gia tại gia của Ngài rất đông: Đại Đức Nguyên Hương người dùng thân đốt lên ngọn đuốc thứ hai giữa mùa Pháp nạn năm 1963 là tôn đệ của Ngài, gọi Ngài bằng Sư Ông.
Ngoài sự thông suốt và đem ba tạng giáo lý Kinh điển dạy đời. Ngài còn trọn dâng một tinh thần cao thượng tham gia tích cực trong các cuộc vận động đấu tranh cứu nguy Phật giáo mặc dù tuổi già sức yếu.
Hôm nay tóm lược đọc mấy dòng tiểu sử của vị cao Tăng đức độ, đã suốt đời hy sinh cho đạo pháp và chúng sanh, chúng ta nguyện nối chí Ngài, trong sứ mạng truyền lưu đạo đức và phổ cập tình thương về cho tất cả.
Nguyện xin Ngài nơi Lạc bang thượng phẩm, phóng đại từ tâm gia hộ.
Tuy Hòa ngày mồng 10 tháng 2 năm Đinh Mùi
Trưởng Tử Sa Môn Diệu Quang, kính soạn
Trích “Đặc san tu chứng, PL. 2510 - 1967”
Thích Diệu Quang
Sinh năm Bính Tuất (1885) tại thôn Vạn lộc, Vạn lộc, xã Hòa Mỹ, quận Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Viên tịch vào hồi 1 giờ khuya mồng 8 tháng 2 năm Đinh Mùi (nhằm vía Đức Thế Tôn xuất gia, Phật lịch 2510)
Hưởng thọ 82 tuổi, thuộc giòng Nho phong họ Nguyễn.
Thân phụ của Ngài là ông cụ Nguyễn Chơn Tịnh.
Thân mẫu của Ngài là cụ bà Trần Thị Như Liên.
Năm 12 tuổi Ngài xuất gia học đạo, thọ giáo Tổ Nguyên Đạt (Chùa Long Trường) Húy là Trừng Thành.
Năm 21 tuổi Ngài thọ Cụ Túc giới tại Chùa Sắc Tứ Bát Nhã, Tuy An pháp hiệu VẠN ÂN.
Năm 26 tuổi Ngài dự vào hàng Tam Sư (tại Chùa Mông Đức, Phan Rang)
Sáu mươi mốt năm, vân du hành Đạo từ Phú Yên, Bạc Liêu, châu Đốc, Ninh Thuận, Bình Thuận và các tỉnh miền Nam. Ngoài việc giảng dạy giáo lý để hóa độ quần sanh, thì về mặc hình tướng Ngài đã kiến tạo và trùng tu cả thảy 22 ngôi Chùa. Ngôi Chùa Hương Tích là nơi Ngài khai sơn và trụ lâu nhất, hàng trăm vị xuất gia được đắc giới tại đây và gần đây là ngôi Bửu Tịnh tổ đình: Giáo hội cung thỉnh Ngài sung chức trưởng ban trùng tu ngôi Tổ đình để làm nơi Hoằng Đạo trung tâm cho Tỉnh giáo hội.
Với tuổi 77 là tuổi dưỡng lão; thế mà Ngài đã hoan hỉ nhận lãnh và thời gian chỉ có sáu năm, hơn nữa lại gặp hoàn cảnh chiến tranh khó khăn. Nhưng một ngôi Chùa không kém phần hùng vĩ nguy nga đã hiển hiện giữa thành phố Tuy Hòa. Vẫn biết việc thành tựu cao thượng trên phần lớn là do chư tôn Hòa Thượng, Thượng tọa Đại Đức và tín đồ. Nhưng phần tâm linh phải ghi nơi Ngài một tinh thần trách vụ cao cả.
Bên cạnh việc trùng tu và kiến tạo, Ngài còn rất lưu ý về mặt phát huy đạo đức, tiếp dẫn hậu lai; nên năm 1920 Ngài đã khai đại giới đàn, tại Chùa Khánh Long (Tuy Hòa). Năm 1956 Ngài dự vào hàng Tam sư Đại giới đàn toàn quốc; tổ chức tại Phật học viện Nha Trang.
Và trước đó Ngài đã đảm nhiệm trách vụ giảng sư tại Phật học đường Gia Giáo (Bạc Liêu) 3 năm. (Bạn đồng thời với Ngài là Ngài Pháp chủ Khánh Anh).
Hiện tại hàng đệ tử xuất gia tại gia của Ngài rất đông: Đại Đức Nguyên Hương người dùng thân đốt lên ngọn đuốc thứ hai giữa mùa Pháp nạn năm 1963 là tôn đệ của Ngài, gọi Ngài bằng Sư Ông.
Ngoài sự thông suốt và đem ba tạng giáo lý Kinh điển dạy đời. Ngài còn trọn dâng một tinh thần cao thượng tham gia tích cực trong các cuộc vận động đấu tranh cứu nguy Phật giáo mặc dù tuổi già sức yếu.
Hôm nay tóm lược đọc mấy dòng tiểu sử của vị cao Tăng đức độ, đã suốt đời hy sinh cho đạo pháp và chúng sanh, chúng ta nguyện nối chí Ngài, trong sứ mạng truyền lưu đạo đức và phổ cập tình thương về cho tất cả.
Nguyện xin Ngài nơi Lạc bang thượng phẩm, phóng đại từ tâm gia hộ.
Tuy Hòa ngày mồng 10 tháng 2 năm Đinh Mùi
Trưởng Tử Sa Môn Diệu Quang, kính soạn
Trích “Đặc san tu chứng, PL. 2510 - 1967”
Thích Diệu Quang
Sunday, September 28, 2008
Bình Ngô Đại Cáo
Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng,
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần;
bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên;
mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên: Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi.
Vưà rồi: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận, Trời đất chẳng dung tha;
Ta đây: Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì: Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước,
Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền,
Thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,
Miịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng,
Vội vã hơn cứu người chết đói.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạọ
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài,
Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh,
Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc:
Trần Hiệp đã phải bêu đầu Mọt gian kẻ thù:
Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy,
Mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh Mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong,
Giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất,
Ta đây mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
Nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
Lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người,
Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc,
Để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế: Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín,
Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười,
Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm,
Chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường
Tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa,
Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi,
Cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù,
Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh Mã Kỳ,
Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần;
bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên;
mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên: Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi.
Vưà rồi: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận, Trời đất chẳng dung tha;
Ta đây: Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì: Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước,
Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền,
Thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,
Miịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng,
Vội vã hơn cứu người chết đói.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạọ
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài,
Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh,
Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc:
Trần Hiệp đã phải bêu đầu Mọt gian kẻ thù:
Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy,
Mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh Mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong,
Giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất,
Ta đây mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
Nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
Lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người,
Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc,
Để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế: Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín,
Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười,
Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm,
Chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường
Tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa,
Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi,
Cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù,
Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh Mã Kỳ,
Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.
Saturday, September 27, 2008
Cường hào, ác bá thời chị Dậu cũng xin chào thua

Ông Trần Ngọc Quận với cánh tay còn
bầm tím sau khi bị công an và xã đội đánh
đập cách đây hơn 10 ngày
Vì lý do con trễ nải chuyện thi hành nghĩa vụ quân sự, người cha đã trên 50 tuổi bị gọi đến xã, bị tát tai và nện dùi cui.
Nhiều ngày nay, người dân thôn Long Mỹ (xã Ân Mỹ, Hoài Ân, Bình Định) rất bức xúc chuyện cán bộ xã triệu tập dân lúc buổi tối để đánh đấm.
Nhiều ngày nay, người dân thôn Long Mỹ (xã Ân Mỹ, Hoài Ân, Bình Định) rất bức xúc chuyện cán bộ xã triệu tập dân lúc buổi tối để đánh đấm.
Đánh xong còn buộc quỳ
Hơn mười ngày sau đêm bị đánh, cánh tay trái của ông Trần Ngọc Quận (54 tuổi, trú thôn Long Mỹ, xã Ân Mỹ, Hoài Ân) vẫn còn sưng húp và nhiều vết bầm. Ngày 24-9, chúng tôi có mặt tại nhà ông Quận. Ông Quận kể: “Ngày 8-9, tôi nhận được giấy triệu tập do Chủ tịch UBND xã Lê Văn Bình ký và ghi rõ lúc 19 giờ cùng ngày phải có mặt tại phòng xã đội - UBND xã để có việc cần. Khi đi mang theo giấy tờ tùy thân để làm việc. Nhất thiết không được vắng mặt. Đúng giờ, tôi có mặt, gặp Xã đội trưởng Lê Bình Hưng đang nằm coi tivi. Tôi bước vào phòng, chào ông ta rồi ngồi trên ghế. Bỗng ông Hưng đứng dậy, thẳng tay tát vào mặt tôi làm tôi choáng váng bật ra khỏi ghế. Đôi kính đeo mắt của tôi bay ra ngoài cửa sổ. Tiếp đó, ông Hưng mở cửa tủ lấy dùi cui và nện tới tấp lên đầu, vai, xương sườn và hai cánh tay của tôi. Tôi la làng thì tiếp tục bị nện gậy”. Tiếp đó, ông Lê Triều Tiên - Trưởng công an xã đến, lại túm tóc ông Quận giật ngược, tát tai, đấm đá tới tấp. Sau đó, ông Hưng mang ra cho ông Quận một xấp giấy bảo viết kiểm điểm và tường trình. “Tôi bảo tôi có tội gì mà viết kiểm điểm và tường trình? Ông Hưng và ông Tiên lại nhảy vào đánh đấm tôi túi bụi cho đến khi tôi gục xuống. Ông Tiên bảo: “Mày phải nói là dạ thưa anh Tiên”. Ông Tiên còn phun nước bọt vào mặt tôi rồi bảo tôi viết tường trình. Hai ông còn hăm dọa giết tôi nếu tôi la lớn. Tôi vừa quỳ vừa viết đến tờ thứ 15 thì tay mỏi rụng” - ông Quận bức xúc.
Rút đơn khiếu nại thì mới ký giấy!
Sáng 25-9, tại UBND xã Ân Mỹ, ông Lê Văn Bình - Chủ tịch UBND xã thừa nhận: “Chuyện anh em cán bộ đánh anh Quận là có và chính quyền đang kiểm tra làm rõ. Tôi cũng mới biết chuyện này”. Ông Bình cho biết chuyện đánh ông Quận xuất phát từ việc điều động nhập ngũ của con trai ông Quận là Trần Ngọc Quốc. Quốc trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, nhiều lần được UBND và xã đội gọi đến tập trung nhưng vắng mặt. Đến ngày 8-9, xã gọi Quốc đến nhận quân trang để đưa qua huyện đội cho đủ quân số nhưng Quốc vẫn vắng mặt. Bà Lê Thị Lương - vợ ông Quận giải thích là Quốc có giấy báo điểm đậu vào Trường đại học Quang Trung. Gia đình đã xin chính quyền xã chờ Quốc có giấy báo nhập học để xin hoãn nghĩa vụ. Hôm nhận quân trang và đưa quân đi, Quốc đang vào Quy Nhơn để thuê phòng trọ chuẩn bị đi học. Bà Lương cho biết thêm, gia đình bà đã làm đơn khiếu nại khắp nơi chuyện ông Quận bị đánh. Sau đó, sáng 24-9, bà Lương mang số giấy tờ nhập học của Quốc đến UBND xã để trình ký. Ông Lê Văn Bình - Chủ tịch UBND xã bảo vợ chồng bà Lương phải viết giấy hủy bỏ việc khiếu nại thì ông Bình ký giấy cho Quốc đi học. Đến cuối giờ chiều 25-9, bà Lương vẫn chưa xin được chữ ký của ông chủ tịch xã. Trong khi đó, sáng 25-9 là hạn chót nhập học của Trường đại học Quang Trung.
Cũng hôm qua, UBND tỉnh Bình Định đã yêu cầu chủ tịch UBND huyện Hoài Ân khẩn trương chỉ đạo kiểm tra việc công an và xã đội trưởng xã Ân Mỹ đánh người, báo cáo chủ tịch tỉnh trước ngày 30-9. Vậy còn việc học của em Quốc, xã không ký xác nhận thì xử lý sao đây?
Theo Pháp Luật TPHCM
Phóng sự Huyền bí sông Hằng
Bộ này gồm 7 đĩa , coi hay. Link này chôm từ blog: http://taidj-phatphap.blogspot.com/
DVD ISO:
DVD1: http://www.megaupload.com/?f=PEPZBYO9
DVD2: http://www.megaupload.com/?f=7JC7TMMK
DVD3: http://www.megaupload.com/?f=VUMXRU3K
DVD4: http://www.megaupload.com/?f=7M5IJ6OY
DVD5: http://www.megaupload.com/?f=TXVFKBV4
DVD6: http://www.megaupload.com/?f=24Z6Z1I5
DVD7: http://www.megaupload.com/?f=735E69G7
DVD ISO:
DVD1: http://www.megaupload.com/?f=PEPZBYO9
DVD2: http://www.megaupload.com/?f=7JC7TMMK
DVD3: http://www.megaupload.com/?f=VUMXRU3K
DVD4: http://www.megaupload.com/?f=7M5IJ6OY
DVD5: http://www.megaupload.com/?f=TXVFKBV4
DVD6: http://www.megaupload.com/?f=24Z6Z1I5
DVD7: http://www.megaupload.com/?f=735E69G7
Subscribe to:
Posts (Atom)